Anne Carson: Người thắp lửa cổ thoại giữa ngút ngàn đương đại
Anne Carson: Người thắp lửa cổ thoại giữa ngút ngàn đương đại
Bài viết của Trần Như Luận
(tổng
hợp từ tư liệu nước ngoài)
Phần 1 – Tiểu
sử, đặc điểm sáng tác và tóm lược sự nghiệp
Sinh năm 1950 tại Toronto, Canada, Anne Carson – năm nay 76 tuổi, là một bóng hình độc hành kỳ ảo nhưng thông tuệ.
Bà nhận bằng tiến sĩ về văn tự Hy–La tại Đại học Toronto, dành
trọn đời mình lặng lẽ đứng trên bục giảng của các viện đại học danh tiếng, song
hành cùng những
trước tác có giá trị văn học được đánh giá cao.
Bằng vốn tiếng Anh sắc sảo hòa quyện linh hồn cổ
Hy Lạp, bà biến vốn kiến thức về từ nguyên học (etymology)
thành một suối nguồn bất tận cho vẻ đẹp văn chương.
Về thái độ tự do của bà và
sự khai phóng trước các hệ thống quy ước, Ủy ban Nobel nhận định:
“Carson từng
mô tả sự buồn chán là kẻ thù không đội trời chung của mình, và đó là trạng thái
mà bà đối diện bằng sự hóm hỉnh và trí tuệ quyết liệt... Sự cộng tác của bà
cùng các nghệ sĩ thị giác, biên đạo múa, cũng như các đạo diễn opera và sân
khấu kịch đã minh chứng cho thái độ tự do tuyệt đối của bà trước những kỳ vọng
và hệ thống quy tắc văn học. Chính điều này là căn nguyên làm nên tầm ảnh hưởng
kiệt xuất của các tác phẩm của bà đối với nền nghệ thuật và văn đàn quốc tế kể
từ thập niên 1990 mãi đến ngày nay.”
Về sự nghiệp văn học, trong 4 thập kỷ qua, Anne Carson đã xuất bản khoảng 30 đầu sách, gồm sáng tác gốc lẫn các bản dịch
kịch Hy Lạp. Đặc trưng của bà
là xóa nhòa biên giới thể loại: bà chỉ có 2 tiểu
thuyết bằng thơ (verse novel), trong khi phần
lớn gia tài còn lại là sự đan cài gần như không thể tách rời giữa thơ ca, tiểu luận triết học và kịch
nghệ thể nghiệm.
Hai tiểu thuyết ấy là:
- Autobiography of Red: A Novel in Verse (tạm dịch, Tự truyện Đỏ: một Tiểu thuyết bằng Thơ, 1998); và
- Red Doc> (tạm dịch, Tài liệu Đỏ>, 2013) là phần tiếp nối của Tự truyện Đỏ.
Qua hai tiểu thuyết thơ này,
Anne
Carson tái sinh hình tượng quái vật da đỏ mang đôi cánh thành một ẩn dụ hiện
đại về kẻ dị biệt mang vết thương hiện sinh.
Trong Tự truyện Đỏ, cậu bé Geryon nhạy cảm, giấu đôi cánh đỏ dưới
áo, lớn lên cùng nhiếp ảnh và trải qua mối tình đầu say đắm nhưng vỡ vụn với
chàng trai Herakles. Nỗi đau phụ bạc đã thúc đẩy Geryon bước vào hành trình tự
vấn, học cách chấp nhận bản thể cô độc và giải phóng đôi cánh nội tâm. Trong cuốn tiếp theo, Tài liệu Đỏ>, Geryon, bước vào tuổi trung
niên, được tác giả gọi đơn giản là “G”, sống lặng lẽ bên đàn bò xạ hương. G tái ngộ
Herakles (nay đổi tên thành “Sad”), một cựu binh chấn thương tâm lý vì chiến
tranh. Cả hai cùng du hành qua vùng băng giá, nơi G phải đối diện với cái chết của người mẹ già
và sự tàn phai về thể xác giữa thế giới hậu hiện đại nguội lạnh.
Dưới đây là một số tác phẩm tiêu biểu
khác trong sự nghiệp đồ sộ của bà:
1984 – Canicula di Anna (Mùa hè cuồng nhiệt của Anne): Trường ca xuất hiện trên
tạp chí Phoenix, mang về cho bà giải thưởng Betty Colladay, đánh dấu bước chân văn chương đầu tiên.
1986 – Eros the Bittersweet (Dục
ái ngọt ngào cay đắng) Chuyên khảo triết học – văn học phát triển từ
luận án tiến sĩ, khảo sát bản chất dục ái; gây tiếng vang học thuật lớn và xác
lập danh tiếng của bà.
1992 – Short Talks (Những tiểu luận ngắn): Tập thơ văn xuôi độc lập
đầu tay chính thức, định hình phong cách suy niệm triết mỹ.
1995 – Plainwater & Glass, Irony, and God (Nước lã & Thủy tinh,
Nghịch phúng và Thượng đế): Đây là
hai ấn
phẩm đột phá: Nước
lã mở đường cho phong cách lai ghép, thơ kết hợp với tiểu luận lữ hành; còn Thủy
tinh, Nghịch phúng và Thượng đế gây chú ý mạnh mẽ với bản trường ca trứ danh The Glass Essay (Tiểu luận Thủy tinh).
2000 – Men in the Off Hours (Đàn ông giờ nghỉ): Tập thơ kết hợp suy
tưởng lịch sử và triết học, đoạt giải thưởng Griffin.
2001 – The Beauty of the Husband (Cái đẹp của người chồng): Tác phẩm thơ tự sự hư
cấu gồm 29 điệu tango về sự tan vỡ hôn nhân, giúp bà trở thành nữ thi sĩ đầu tiên đoạt giải T. S. Eliot.
2005 – Decreation (Giải thể cái tôi): Tác phẩm đa thể loại
kết hợp thơ, tiểu luận huyền học và kịch bản opera.
2010 – Nox[1]: Thi phẩm điêu khắc độc bản, dạng hộp xếp accordion, tưởng niệm người anh trai
quá cố của bà; tác phẩm được tôn vinh như một
cuộc cách mạng đáng ghi nhận về hình thức xuất bản.
2016 – Float (tạm
dịch, Trôi nổi) Bộ hợp tuyển gồm 22 tập
chapbook rời, đựng trong hộp mica trong suốt, cho phép người
đọc tùy ý xáo trộn thứ tự thưởng thức.
2019 – Norma Jeane Baker of Troy (Norma
Jeane Baker ở Thành Troy) Tác phẩm thơ kịch thể
nghiệm đối chiếu bi kịch nàng Helen thành Troy với minh tinh Marilyn Monroe,
gây tiếng vang lớn trên sân khấu trình diễn tại New York.
2024 – Wrong Norma (Norma lệch lạc):
Tuyển tập mới nhất gồm 25 tác phẩm văn xuôi ngắn, thơ và tranh vẽ tự do của
chính tác giả;
nội dung soi chiếu một thế giới đầy bất an và những bản thể lệch chuẩn.
Phần 2 – Thử
tiếp cận văn chương của Carson
Trong đoạn thơ sau đây xuất hiện ở cuối tiểu thuyết Tự truyện Đỏ, Carson đặt con người hữu hạn, mong manh của chúng ta vào thế đối sánh với sự kỳ diệu của lửa và bóng đêm vô tận,
từ đó xác lập một phẩm giá uy nghiêm, bất tử của kiếp nhân sinh:
Lửa[2]
Lách qua một
con hẻm rồi rẽ ngoặt nơi góc phố, và kìa nó ở đó.
Ngọn núi lửa
nằm gọn trong một bức tường.
Cậu có thấy
nó không, Ancash[3]
cất tiếng hỏi.
Đẹp quá,
Herakles thở dài thốt lên. Anh đang dõi mắt nhìn những người thợ.
Ý tôi là ngọn
lửa kia kìa, Ancash nói lớn.
Herakles mỉm
cười trong bóng tối.
Ancash chăm
chú ngắm nhìn những ngọn lửa.
Chúng trắng
xóa gắt gao, tựa ánh mặt trời rọi qua mí mắt khép,
dập dồn những
nhịp đập màu hổ phách thẳm sâu.
Người thợ làm
bánh mở toang cánh cửa lò để quẳng thêm củi vào.
Một âm thanh
tựa như tiếng sư tử gầm rú dội ra.
Bên trong là
cả một lò lửa bừng nở những đóa hồng.
Cả ba đứng
lặng ngắm nhìn vào trong.
Geryon có thể
thấy những ngọn lửa nhảy múa trên vách gạch lò nung.
Anh cảm nhận
hơi nóng phả lên đôi gò má và cuống họng mình.
Anh ngửi thấy
mùi men bánh hoang dại và khói củi nồng nàn.
Cảm giác tựa
hồ như đang nhìn thẳng vào tâm can một vì sao đỏ.
Chẳng ai cất
lời.
Chẳng có lời
nào để thốt lên về lửa.
Lửa là kẻ
láng giềng của bất kỳ điều gì thuộc về con người.
Chúng ta là
những sinh linh kỳ diệu xiết bao, Geryon thầm nghĩ.
Chúng ta là
những kẻ láng giềng của lửa.
Và giờ đây thời
gian đang cuồn cuộn lao nhanh về phía họ,
nơi họ đứng
kề vai sát cánh,
với sự
bất tử rạng ngời trên gương mặt,
và màn đêm
thăm thẳm ngả sau lưng.
Phần sau
đây, chúng tôi giới thiệu vài thi phẩm ngắn của bà; xin lưu ý rằng một chùm thơ
không nói lên công lao to lớn của bà trong việc kiến tạo ngôi đền thơ đầy trí
tuệ của mình.
1-
Bài thơ Apostle
Town
Bài này nằm trong chùm thơ The Life of Towns (Đời sống các thị trấn) trong cuốn Nước
lã & Thủy tinh, Nghịch phúng và Thượng đế, 1995).
Bản dịch: Thị
trấn Tông đồ
Sau ngày ngài mất.
Ngày nào trời cũng lộng gió.
Ngày nào cũng vậy.
Chắn ngang trước mắt như một bức tường.
Chúng tôi bước đi.
Gào thét nghiêng ngả vào mặt nhau.
Dọc theo con đường.
Thật là vô ích.
Những khoảng trống giữa chúng tôi.
Dần trở nên đanh cứng.
Đó là những khoảng trống rỗng không.
Vậy mà chúng đặc quánh.
Đen đặc và u sầu.
Tựa như những kẽ răng thưa.
Của một bà lão.
Mà ngài từng biết đấy.
Cái thuở bà còn.
Kiều diễm với những đường gân huyết mạch cuộn
trào tựa hồ ngọn lửa của một cung
điện.
2-
Bài thơ O Small Sad
Ecstasy of Love
Bài này phát
hành ngày 10 tháng 12 năm 2020 trong dự án thi ca thường nhật nổi tiếng Poem-a-Day do Viện Hàn lâm Thi sĩ Hoa Kỳ
thực hiện.
Bản dịch: Ôi, nỗi ngất ngây u buồn bé nhỏ của tình
yêu
Em vẫn thích được ở bên anh suốt
đêm dài với đôi mắt khép.
May mắn làm sao—kìa anh tới
theo các vì sao!
Em trải qua một chuyến viễn
du
khắp tâm hồn và trái tim em
và
kìa anh đấy
đang quỳ bên vệ đường
với bộ đồ nghề nhỏ nhắn trên
tay
hàn gắn một điều gì.
Hãy cho em thế giới
anh đã lấy đi của em ngày xa xưa.
3-
Bài thơ Lines
Bài này nằm
trong tác phẩm Decreation: Poetry,
Essays, Opera (Giải thể Cái Tôi:
Thơ ca, Tiểu luận, Opera) do NXB
Alfred A. Knopf ấn hành năm 2005.
Bản dịch: Thẳng hàng
Trong lúc nói chuyện với mẹ, tôi sắp xếp lại
đồ đạc cho ngay ngắn.
Các gáy sách đặt cạnh chiếc điện thoại.
Những chiếc kẹp giấy trong đĩa sứ.
Những vụn gôm rải rác trên bàn.
Mẹ nói về cái chết với giọng ao ước mong
chờ.
Tôi bắt đầu xoay nghiêng tất cả những chiếc
kẹp giấy theo chiều ngược lại.
Ngoài cửa sổ, tuyết đang rơi thẳng hàng thành những vệt dài.
Với mẹ, tình yêu lớn nhất đời tôi, tôi kể mẹ
nghe bữa trưa nay mình ăn gì.
Những vệt tuyết rơi giờ đây nhanh hơn.
Số Phận đã gắn những quả cân nhỏ vào đuôi mỗi
sợi tuyết (để giục chúng ta đi nhanh hơn) tôi toan nói với mẹ như thế—
dấu hiệu về lòng thương xót của Chúa.
Mẹ bảo mẹ không bắt tôi trò chuyện lâu đâu, mẹ
sợ làm tốn cước điện thoại của tôi.
Những phép mầu cứ thế trôi tuột qua đời tôi và mẹ.
Những chiếc kẹp giấy giờ đã được xếp thẳng
hàng bất tử.
Lòng thương xót của Chúa! Vết bỏng rát này còn
kéo dài bao lâu nữa, đứa con thầm hỏi, khi đang cố tỏ ra dịu dàng.
4-
Bài thơ văn xuôi Short talk
on walking backwards
Bài này
nằm trong tập thơ văn xuôi đầu tay mang tính bước ngoặt của bà: Những tiểu luận ngắn, 1992, do NXB Brick Books ấn hành;
sau đó được in lại trong tập Nước lã, 1995).
Bản
dịch: Tiểu luận ngắn về Việc đi
thụt lùi
Mẹ từng cấm
chúng tôi đi thụt lùi. Người chết đi như thế, mẹ hay bảo vậy. Mẹ lấy ý nghĩ ấy
từ đâu ra? Có lẽ từ một bản dịch tồi. Rốt cuộc thì, người chết đâu có đi thụt lùi,
nhưng họ đi ngay sau lưng chúng ta. Họ chẳng còn buồng phổi để cất tiếng gọi,
nhưng lại ước ao chúng ta ngoái đầu nhìn lại. Họ là
những nạn nhân của tình yêu, phần nhiều trong số họ là vậy
thôi.
5-
Bài
thơ văn xuôi Short talk on the anatomy lesson of Dr Deyman
Bài thơ
nổi tiếng này đề cập nhát dao giải phẫu mở toang bộ não người, do Bác sĩ Deyman thực hiện. Qua tác phẩm này, Carson khẳng định chiều sâu
bất khả tri của linh hồn con người: đằng sau hành vi phạm tội, dục vọng và bản
án treo cổ, căn nguyên sâu xa nhất bị giam cầm trong thể xác ấy rốt cuộc chỉ là
nỗi buồn bã, bơ vơ khôn cùng của phận người.
Bản dịch: Tiểu luận
ngắn về bài học giải
phẫu của Bác sĩ Deyman
Một mùa đông
buốt giá đến độ, khi sải bước trên phố Breestraat, hễ đi từ vạt nắng sang bóng
râm, ta có thể cảm nhận sự đổi thay trườn dọc xuống hộp sọ tựa như một dòng
nước lạnh. Đó là mùa đông đói kém năm 1656, thuở Jan Đen cặp kè một ả
điếm tên là Elsje Ottje và có một thời gian họ sống phong lưu
bên nhau. Nhưng vào một ngày tháng Giêng băng giá, Jan Đen bị bắt quả
tang đang trộm một tư gia buôn vải. Gã tháo chạy, vấp ngã, lưỡi
dao đâm chết một người đàn ông và bị treo cổ vào ngày
27 tháng Giêng. Số phận gã sau đó ra sao hẳn bạn đã tường: Tiết trời giá lạnh
cho phép Bác sĩ Deyman hướng con mắt chân lý của y học vào Jan Đen ròng rã suốt
ba ngày. Người ta tự hỏi liệu Elsje có bao giờ trông thấy bức họa của
Rembrandt, nơi khắc họa tên trộm tình nhân của ả dưới góc nhìn trực diện thu
ngắn đầy bạo liệt, đến mức hai lòng bàn chân trinh bạch của gã dường như chạm
sát vào phần đại não đã bị mổ phanh hay không. Cắt đi và cắt thật
sâu để tìm căn nguyên của vấn đề, Bác sĩ
Deyman đang cất lời, khi ông rẽ bộ não sang hai bên tựa như rẽ một mái tóc. Nỗi
u sầu lần mò trườn ra từ nơi đó.
Phần 3 –Đôi dòng tạm
kết luận
(hay là: Ngọn lửa cổ thoại góp phần
soi bóng kiếp nhân sinh)
Theo nhận định khá
thống nhất của các nhà phê bình văn học đương đại, mà tiêu biểu là Guy
Davenport và Harold Bloom, khi khép lại các trang viết của Anne Carson, điều đọng
lại sâu xa nhất trong lòng người đọc chúng ta không
phải chỉ là khối tri thức cổ điển uyên áo, mà là sự dũng cảm phi thường của một tâm hồn không
ngừng tra vấn về thân phận con người. Bằng cách mạnh dạn đập
vỡ mọi đường biên thể loại, giải phóng thơ ca khỏi khuôn mẫu vần
điệu, biến tiểu luận thành nỗi tự vấn về bản thể và đưa
triết học hòa vào nhục cảm, bà đã kiến tạo nên
một vùng mỹ cảm hoàn toàn độc đạo của
văn học đương đại.
Theo
tôi, trong
thế giới văn chương của Carson, các mảnh vỡ bi kịch Hy Lạp không còn là lớp tro tàn khảo cổ đã khô cứng hay
đóng mạng nhện hằng trăm năm trong giá sách, mà là ngọn lửa hằng sống, soi rọi những vết thương hiện sinh hôm nay: nỗi đau phụ bạc, sự
hữu hạn của thể xác, và nhất là khoảng tối chia lìa trước cái chết. Như chính lời tự vấn đầy
kiêu hãnh của nhân vật Geryon bên lò bánh mì rực lửa, văn chương Anne Carson nhắc nhở
chúng ta rằng: dẫu kiếp người mong manh và trần gian lạnh buốt, chúng ta vẫn là những sinh linh kỳ diệu
chừng nào còn can đảm đứng kề bên ngọn lửa của tình yêu và đau khổ.
Giải Nobel Văn chương
2026 hẳn nhiên là sự tôn vinh xứng đáng cho một người phụ nữ kiên
cường và bền bĩ, với học vấn uyên bác, thắp lên ngọn lửa kiệt xuất giữa ngút ngàn thời đại...
T.N.L.
(dịch thơ từ nguyên bản tiếng Anh và giới
thiệu)
[1]
Giới học thuật và phê bình quốc tế hầu
hết đều giữ nguyên chữ La-tinh Nox, vì đây là danh xưng mang tính
biểu tượng vật thể (cuốn sách đựng trong một chiếc hộp màu xám đen như một cỗ
quan tài nhỏ) – Chú thích của người dịch.
[2] Nhan đề này do người dịch mạn
phép đặt ra.
[3] Đây là chàng
trai Peru, tình nhân mới của Herakles, người thấu cảm kể cho Geryon huyền thoại về
sinh vật có cánh, giúp anh giải
phóng đôi cánh đỏ và hòa giải với vết thương hiện sinh.

Nhận xét
Đăng nhận xét