NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ VIỆT Tiểu luận - Phê bình

 NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ VIỆT

(bài đọc dành cho các bạn trẻ và các anh chị em yêu thích thi ca nhân dịp FB NHỊP SỐNG VĂN HỌC tổ chức Cuộc thi Thơ 1-2-3, năm 2025)

Tiểu luận của Trần Như Luận



Phần I

Trước thời kỳ văn học trung đại Việt Nam.

Vào thời kỳ này, thể thơ được ưa chuộng và sáng tác nhiều nhất chủ yếu thuộc về văn học dân gian và văn học chữ Hán giai đoạn đầu. Dưới đây là những thể thơ phổ biến trong giai đoạn này:

1. Thể thơ lục bát

  • Là thể thơ dân gian đặc trưng nhất của người Việt, xuất hiện sớm và phổ biến qua các bài ca dao, tục ngữ, truyện thơ.
  • Cấu trúc: Một cặp gồm một câu sáu chữ (lục) và một câu tám chữ (bát), có vần lưng và vần chân xen kẽ.
  • Tiêu biểu: Ca dao, tục ngữ, Truyện Kiều (Nguyễn Du) sau này phát triển rực rỡ trên nền tảng lục bát dân gian.

2. Thể thơ song thất lục bát

  • Xuất hiện từ thời Lý - Trần, nhưng chưa thực sự phổ biến.
  • Cấu trúc: Hai câu bảy chữ (song thất) đi trước, tiếp theo là một cặp lục bát.
  • Tiêu biểu: Một số bài thơ trong văn học dân gian, mãi sau này mới phát triển với tác phẩm "Cung oán ngâm khúc" (Nguyễn Gia Thiều).

3. Thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú Đường luật, ngũ ngôn bát cú)

  • Xuất hiện khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam, phổ biến trong giới Nho học từ thời Lý - Trần.
  • Cấu trúc: 8 câu, mỗi câu 7 chữ hoặc 5 chữ, tuân theo luật bằng-trắc chặt chẽ.
  • Tiêu biểu: Thiền sư Mãn Giác, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi có nhiều sáng tác theo thể này.

4. Thể thơ ngũ ngôn (ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú)

  • Phát triển theo dòng thơ chữ Hán, thường xuất hiện trong thơ Thiền, thơ vịnh sử.
  • Cấu trúc: Mỗi câu 5 chữ, có thể là tứ tuyệt (4 câu) hoặc bát cú (8 câu).
  • Tiêu biểu: Thơ Thiền thời Lý - Trần như của Không Lộ, Mãn Giác.

Thể thơ nào phổ biến nhất?

  • Lục bát là thể thơ gần gũi, phổ biến nhất vì gắn liền với ca dao, dân ca và dễ nhớ, dễ thuộc.
  • Đường luật (thất ngôn bát cú) phổ biến trong giới trí thức Nho học nhưng không lan rộng như lục bát.
  • Ngũ ngôn tứ tuyệt hay song thất lục bát cũng có vị trí nhưng không áp đảo như hai thể trên.

Vậy, nếu xét về mức độ sáng tác và phổ biến rộng rãi trong nhân dân, thể thơ lục bát là thể thơ được ưa chuộng nhất trước thời kỳ văn học trung đại ở Việt Nam.

Phần II

Văn học trung đại Việt Nam

Thời kỳ này (tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX), nhiều thể thơ được sáng tác và được phổ cập, nhưng có ba thể thơ chính được ưa chuộng, phổ biến nhất, đó là:

1. Thể thơ Đường luật (Thất ngôn bát cú Đường luật, Ngũ ngôn bát cú) – Thể thơ được giới trí thức Nho học ưa chuộng nhất

  • Xuất phát từ thơ Đường của Trung Quốc, được sử dụng rộng rãi trong tầng lớp trí thức, quan lại và thi nhân.
  • Cấu trúc:
    • Thất ngôn bát cú: 8 câu, mỗi câu 7 chữ, tuân theo luật bằng-trắc nghiêm ngặt.
    • Ngũ ngôn bát cú: 8 câu, mỗi câu 5 chữ, nhưng ít phổ biến hơn.
  • Tiêu biểu:
    • Nguyễn Trãi với "Quốc âm thi tập"
    • Lê Thánh Tông với "Quỳnh Uyển cửu ca"
    • Nguyễn Du với các bài thơ chữ Hán trong "Thanh Hiên thi tập"
    • Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan...

⮕ Đây là thể thơ thống trị trong giới Nho học và thi ca cung đình.

2. Thể thơ Lục bát – Thể thơ dân gian và bác học phổ biến nhất

  • Là thể thơ thuần Việt, dễ nhớ, dễ phổ biến trong dân gian.
  • Cấu trúc: Mỗi cặp gồm một câu 6 chữ (lục) và một câu 8 chữ (bát), có vần liền hoặc vần lưng.
  • Tiêu biểu:
    • Nguyễn Du với "Truyện Kiều" (tuyệt phẩm lục bát)
    • Nguyễn Đình Chiểu với "Lục Vân Tiên"
    • Ca dao, dân ca và truyện thơ Nôm

⮕ Đây là thể thơ phổ biến nhất trong văn học dân gian và sáng tác bằng chữ Nôm.

3. Thể thơ Song thất lục bát – Thể thơ lãng mạn và trữ tình nhất

  • Xuất hiện từ thời Lê, nhưng phát triển mạnh vào thế kỷ XVIII - XIX.
  • Cấu trúc:
    • Hai câu 7 chữ (song thất)
    • Một cặp lục bát (6-8)
  • Tiêu biểu:
    • Nguyễn Gia Thiều với "Cung oán ngâm khúc"
    • Đoàn Thị Điểm với "Chinh phụ ngâm"
    • Nguyễn Du với "Văn tế thập loại chúng sinh"

⮕ Thể thơ này rất phù hợp với các tác phẩm trữ tình, ai oán, bi thương.

Thể thơ nào phổ biến nhất?

  • Trong giới trí thức Nho học → Thất ngôn bát cú Đường luật là thể thơ chính, chuẩn mực, được dùng để thi cử, đối đáp, làm văn thơ.
  • Trong văn học dân gian và truyện thơ chữ Nôm → Lục bát là thể thơ được ưa chuộng nhất vì dễ nhớ, dễ phổ biến.
  • Trong thơ trữ tình, ai oán → Song thất lục bát rất được ưa chuộng nhưng không phổ biến bằng hai thể trên.

⮕Như vậy:

  • Thể thơ Đường luật (Thất ngôn bát cú) là thể thơ chính thống và được sáng tác nhiều nhất trong văn học trung đại Việt Nam.
  • Lục bát là thể thơ phổ biến nhất trong dân gian và văn học chữ Nôm.

 

 

Phần III

Phong trào Thơ Mới thời kỳ Xuân Diệu

và các thi sĩ cùng thời

Phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) là một cuộc cách mạng trong thi ca Việt Nam, đánh dấu sự chuyển mình từ thơ cổ điển (Đường luật, lục bát, song thất lục bát) sang một phong cách thơ hiện đại hơn, gần gũi với cảm xúc cá nhân và mang hơi thở phương Tây. Xuân Diệu cùng với Thế Lữ, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư… là những thi sĩ tiêu biểu của thời kỳ này.

1. Đặc điểm của Thơ Mới thời kỳ Xuân Diệu

1.1. Đề cao cái “tôi” cá nhân và tình cảm mãnh liệt

  • Xuân Diệu là nhà thơ đề cao cá nhân, cái tôi cô đơn, khát khao yêu và sống hết mình.
  • Thơ không còn mang tính quy phạm của Nho giáo mà phản ánh trực tiếp cảm xúc cá nhân.
  • Ví dụ: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất” – thể hiện khát vọng níu giữ thời gian, tận hưởng cuộc sống đến tận cùng.

1.2. Cách tân về hình thức và ngôn ngữ thơ

  • Loại bỏ sự gò bó của thơ Đường luật, phá vỡ niêm luật cứng nhắc.
  • Câu thơ dài ngắn linh hoạt, vần điệu tự nhiên hơn.
  • Ngôn ngữ gần gũi, mới mẻ, sử dụng nhiều hình ảnh táo bạo.

1.3. Đưa thiên nhiên và tình yêu vào thơ với cảm xúc hiện đại

  • Xuân Diệu ca ngợi thiên nhiên nhưng không chỉ là vẻ đẹp tĩnh lặng, mà là thiên nhiên đầy sức sống, rạo rực như con người đang yêu.
  • Ví dụ:

“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”

1.4. Mang đậm tinh thần hiện đại, hòa nhập với phương Tây

  • Xuân Diệu chịu ảnh hưởng mạnh từ thơ Pháp, đặc biệt là chủ nghĩa lãng mạn và tượng trưng.
  • Quan niệm về thời gian: Không còn chấp nhận vòng luân hồi mà luôn cảm thấy thời gian trôi nhanh, phải sống vội vàng.

2. Thơ Mới chịu ảnh hưởng bởi trào lưu văn học nào?

2.1. Ảnh hưởng từ Chủ nghĩa Lãng mạn (Romanticism) phương Tây

  • Xuất phát từ thơ Pháp thế kỷ XIX với các nhà thơ như Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset...
  • Đề cao cảm xúc cá nhân, khát vọng yêu thương, cái đẹp của tuổi trẻ.
  • Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư chịu ảnh hưởng rõ rệt từ chủ nghĩa này.

2.2. Ảnh hưởng từ Chủ nghĩa Tượng trưng (Symbolism)

  • Chủ yếu từ Charles Baudelaire, Paul Verlaine, Arthur Rimbaud...
  • Dùng nhiều hình ảnh tượng trưng để gợi cảm xúc.
  • Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên có xu hướng sử dụng hình ảnh kỳ ảo, siêu thực.

2.3. Ảnh hưởng từ Chủ nghĩa Hiện đại (Modernism)

  • Phá vỡ quy tắc thơ cũ, sáng tạo về cấu trúc câu thơ, nhịp điệu và cách biểu đạt.
  • Thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên đều mang tinh thần đổi mới mạnh mẽ.

3. Đánh giá tổng quan về Thơ Mới

Ưu điểm:

✅  Đổi mới thi ca Việt Nam, giúp thơ thoát khỏi sự gò bó của các quy tắc cũ.
✅  Đề cao cá nhân, thể hiện cái “tôi” mạnh mẽ, phù hợp với xu hướng văn học hiện đại.

✅  Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, dễ đi vào lòng người.
✅  Đa dạng về phong cách và chủ đề, từ tình yêu, thiên nhiên, thân phận con người đến triết lý thời gian.

Hạn chế:

❌  Thiên về cảm xúc cá nhân, đôi khi quá bi lụy, u sầu.
❌  Một số nhà thơ sa vào lối viết khó hiểu, cầu kỳ.
❌  Không còn tính quy phạm, truyền thống như thơ cổ điển, đôi khi bị xem là quá “Âu hóa”.

4. Như vậy,

Phong trào Thơ Mới - tiêu biểu là trào lưu sáng tác của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Cận... đã mở ra một kỷ nguyên mới cho thi ca Việt Nam, đưa thơ vào quỹ đạo hiện đại, gần gũi với thơ phương Tây. Dù có những hạn chế, nhưng đây vẫn là giai đoạn rực rỡ nhất của thi ca Việt Nam trong thế kỷ XX, đặt nền móng cho thơ tự do sau này.

Phần IV

Thơ Tân Hình Thức do nhà thơ

Khế Iêm khởi xướng

Thơ Tân hình thức Việt Nam (New Formalism Poetry) là một trào lưu thơ hiện đại do nhà thơ Khế Iêm (Lê Văn Đức) khởi xướng từ cuối thập niên 1990. Thể thơ này chịu ảnh hưởng từ New Formalism Poetry của Mỹ, nhưng được điều chỉnh để phù hợp với ngữ cảnh tiếng Việt và văn hóa Việt Nam.

Khế Iêm và các nhà thơ “cùng hướng đi” đã thử nghiệm một cách viết thơ mới, thoát khỏi sự ràng buộc của vần điệu truyền thống và tìm cách tạo nhịp bằng câu thơ dài ngắn tùy thích, lặp lại và kể chuyện theo kiểu văn xuôi. Điều này tạo ra một phong cách thơ mới, gần gũi với nhịp điệu tự nhiên của ngôn ngữ hiện đại.

Một trong các bài thơ tiêu biểu của Thơ tân hình thức là bài "Những con ngựa của thời gian" - bài thơ viết về dòng chảy của thời gian, về sự thay đổi trong cuộc sống và nỗi hoài niệm của con người. Bài thơ này miêu tả hình ảnh những con ngựa tượng trưng cho thời gian, chạy không ngừng nghỉ, mang theo quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhân vật trữ tình trong thơ vừa quan sát, vừa bị cuốn theo những chuyển động ấy. Ví dụ một số câu lặp lại trong bài thơ:

"Những con ngựa của thời gian chạy qua cánh đồng
Những con ngựa của thời gian mang theo những cơn gió
Những con ngựa của thời gian chạy không bao giờ dừng lại…"

Cấu trúc này tạo nên dòng chảy liên tục, cảm giác miên man về thời gian, giúp bài thơ mang màu sắc triết lý nhưng vẫn gần gũi với người đọc. Người ta cho rằng bài thơ này đại diện cho Thơ Tân hình thức, vì các đặc trưng sau:

  • Sử dụng từ ngữ lặp lại để tạo nhịp thay cho vần → Nhấn mạnh ý tưởng mà không cần gieo vần truyền thống.
  • Có yếu tố kể chuyện → Không chỉ là diễn đạt cảm xúc mà còn có dòng thời gian, sự kiện.
  • Tự nhiên, gần gũi với văn xuôi → Không cần câu thơ quá ngắn hoặc quá dài, không bị gò bó bởi quy tắc cổ điển.

Về cách trình hiện bài thơ Tân hình thức: một đặc điểm khá thú vị là tác giả toàn quyền quyết định một cách thể hiện về hình thức, sao cho đạt được sự ngắt nhịp gây hiệu ứng mạnh đối với người tiếp nhận. Ví dụ:

Em và tôi và mùa xuân[1]

 

Em và mùa xuân ùa đến

cùng một lúc. Em và mùa

xuân ùa đến cùng một lúc

cùng với nắng cùng với mưa

 

cùng với bầu trời đầy mây

trắng và căn phòng bỗng dưng

đầy ánh sáng. Tiếng lòng anh

rung lên người anh rung lên

 

chiếc giường đã quen tẻ nhạt

của anh rung lên. Dường như

từ đó anh rất hiểu mùa

xuân, anh hiểu là đôi ta

 

cần gì giữa cõi đời đầy

sóng đầy gió đầy gai đầy

giấc mơ đầy bội ước này.

Dường như từ đó anh rất

 

hiểu mùa xuân, anh rất hiểu

đôi ta cần gì, mọi người

cần gì giữa cuộc đời đầy

sóng đầy gió đầy gai đầy

 

giấc mơ đầy bội ước này.

 

T.N.B.

 

Năm 2014, Tạp chí Sông Hương biên tập và phát hành tập sách “Thơ Tân hình thức Việt  tiếp nhận và sáng tạo” (Nhà xuất bản Thuận Hóa). Đọc bài điểm sách khá chi tiết của Nguyễn Bội Nhiên trên báo Quảng Trị Online (17.8.2014) có thể hiểu các đặc điểm của thơ Tân hình thức và khuynh hướng sáng tác của các nhà thơ chịu ảnh hưởng bởi lối viết này.

Đây là một trong những câu tổng kết tiêu biểu của người điểm sách: “Trên quan điểm thơ rất đỗi đời thường, thơ trở về đời sống thực tại nên thơ không có vần điệu để mỗi bài thơ là một câu chuyện cuộc sống, tính nhạc của thơ được tạo nên từ nhịp điệu của sự đọc, tính truyện chủ trương thi pháp đời thường khiến mỗi bài thơ là một câu chuyện đời thường”.

Một số đặc trưng căn bản của Thơ Tân hình thức

1. Dùng lại các hình thức cũ, nhưng theo cách mới

  • Tân hình thức không phá bỏ hoàn toàn hình thức như thơ tự do, mà tìm cách làm mới thơ truyền thống, thậm chí sắp xếp câu chữ như thơ truyền thống.
  • Chấp nhận câu dài, câu ngắn khác nhau, không bị gò bó vào số chữ nhất định như thơ Đường luật hay lục bát.

2. Loại bỏ vần điệu truyền thống, thay bằng điệp cú pháp và điệp ngữ

  • Không dùng vần theo kiểu truyền thống, nhưng tạo nhịp bằng cách lặp lại từ ngữ, câu, cụm từ. Ví dụ:

"Tôi đi qua phố cũ, thấy em đứng đó
Tôi đi qua phố cũ, thấy mùa thu rơi
Tôi đi qua phố cũ, thấy lòng mình hoang hoải…"

  • Sự lặp lại làm cho bài thơ có nhịp điệu mà không cần vần.

3. Chất liệu thơ lấy từ đời thường, mang tính tự sự

  • Đề cao yếu tố kể chuyện (narrative), giống như một câu chuyện trong thơ.
  • Ngôn ngữ thơ gần gũi, bình dị, không cần dùng từ hoa mỹ hay cầu kỳ gì cả.

4. Đưa yếu tố thời gian và chuyển động vào thơ

  • Không gian và thời gian trong thơ tân hình thức chuyển động liên tục, không đứng yên một chỗ.
  • Ví dụ, nhân vật thơ có thể di chuyển từ quá khứ đến hiện tại, từ một địa điểm này đến địa điểm khác trong cùng một bài thơ.

5. Tính đa nghĩa, mở rộng khả năng diễn giải

  • Không bó buộc vào một ý nghĩa duy nhất mà tạo ra sự đa tầng trong cảm nhận của người đọc.

Ưu điểm và đóng góp của Thơ Tân hình thức

✅  Đổi mới thơ Việt, giúp thơ gần gũi với ngôn ngữ hiện đại, bớt sáo rỗng.
✅  Thơ mang tính tự nhiên, mạch kể chuyện rõ ràng, không còn gò bó vào quy tắc vần luật cứng nhắc.
✅  Tạo sự kết nối giữa thơ và văn xuôi, giúp thơ có tính tự sự và dễ tiếp cận hơn.
✅  Mở rộng không gian sáng tác, giúp các nhà thơ có thể thử nghiệm nhiều phong cách mới.

Hạn chế của Thơ Tân hình thức

❌  Thiếu sự cô đọng: Do chú trọng vào kể chuyện nên đôi khi bài thơ dài dòng, mất đi chất thơ súc tích.
❌  Khó phổ biến tới công chúng: Do không có vần điệu truyền thống nên người đọc phổ thông cảm thấy khó tiếp cận.
❌  Chưa thực sự tạo thành một phong trào mạnh ở Việt Nam: Dù có ảnh hưởng trong một số cộng đồng thơ hiện đại, nhưng chưa thể cạnh tranh với thơ truyền thống như lục bát hay Đường luật.

Như vậy,

Thơ Tân hình thức do nhà thơ Khế Iêm đề xướng là một nỗ lực đổi mới thơ ca Việt Nam, giúp thơ hiện đại trở nên gần gũi hơn với văn xuôi và đời sống. Những ai cảm thấy nhàm chán với các vần điệu đã trở nên sáo mòn, có thể tìm thấy nơi thể thơ này “những vũ khúc không vần” hoàn toàn mới mẻ. Những ai quay lưng với những thi cảnh bị lạm dụng trong thơ truyền thống có thể bắt gặp trong thơ Tân hình thức vẻ mới mẻ và sự gần gũi với đời thường. Tuy nhiên, do sự thay đổi lớn về cách tổ chức ngôn ngữ thơ, nó chưa thực sự phổ biến đến quảng đại quần chúng và vẫn đang trong quá trình tìm kiếm sự chấp nhận của công chúng yêu thơ.

Phần V:

Xu hướng thơ “Bình cũ rượu mới”

Xu hướng sáng tác thơ theo kiểu "bình cũ rượu mới" – tức là dùng ngôn từ bình dân, tiếng lóng, tiếng địa phương, thậm chí cả từ tục tĩu để tạo nên chất thơ gần gũi, đời thường – thực ra đã có từ khá lâu trong văn học Việt Nam, nhưng có những giai đoạn nổi bật và những thi sĩ tiêu biểu tạo nên dấu ấn mạnh mẽ.

1. Giai đoạn khởi nguồn (trước thế kỷ XX)

Ngay từ thời trung đại, một số tác phẩm dân gian đã sử dụng ngôn ngữ đời thường để phản ánh cuộc sống và tâm tư của người dân. Ví dụ:

  • Ca dao, tục ngữ: Nhiều câu ca dao mang tính châm biếm, hài hước, thậm chí có những từ ngữ khá thô, nhưng lại rất chân thực.
  • Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII-XIX): Được xem là "bà Chúa thơ Nôm", bà đã sử dụng nhiều ngôn ngữ bình dân, đôi khi mang tính chất nửa thanh nửa tục để bộc lộ cảm xúc, đầy yếu tố nghệ thuật và ẩn dụ sâu sắc.

 

2. Giai đoạn thơ hiện đại (đầu thế kỷ XX)

Thơ Mới (1930-1945) chủ yếu mang tính lãng mạn và hướng nội, nhưng vẫn có những nhà thơ sử dụng ngôn ngữ đời thường:

  • Nguyễn Bính: Đưa ngôn ngữ nôm na, dân dã của người thôn quê vào thơ.
  • Tản Đà: Có những bài thơ sử dụng cách nói suồng sã, đôi lúc mang đậm chất “giang hồ”.

3. Giai đoạn thơ sau 1945

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thơ ca chủ yếu phục vụ cách mạng, nhưng vẫn có những nhà thơ mang chất đời thường vào tác phẩm:

  • Trần Đăng Khoa (thời thơ ấu): Những bài thơ thiếu nhi của ông như Hạt gạo làng ta có ngôn ngữ giản dị, gần gũi.
  • Bùi Giáng: Một nhà thơ tài hoa quê Quảng Nam, dạy học tại Sài Gòn, nhưng lập dị, thơ ông nhiều khi có ngôn từ kỳ quặc, dí dỏm, gần với ngôn ngữ đời thường.

4. Giai đoạn đổi mới và đương đại (sau 1986)

Từ thời kỳ Đổi Mới, xu hướng sử dụng ngôn từ bình dân, thậm chí thô tục trong thơ phát triển mạnh hơn. Một số tên tuổi đáng chú ý:

  • Nguyễn Duy: Nổi tiếng với bài thơ Đánh thức tiềm lực, dùng ngôn từ dân dã để phản ánh xã hội.
  • Nguyễn Quốc Chánh: Thơ ông mạnh bạo, phá cách, không ngại dùng từ thô tục.
  • Lý Đợi, Bùi Chát: Những đại diện của phong trào thơ "Dị bản" với ngôn ngữ đường phố, mang tính phản kháng mạnh mẽ.

5. Xu hướng thơ bình dân trên mạng xã hội

Trong thời đại số, nhất là từ những năm 2010 trở đi, xuất hiện nhiều nhà thơ mạng sử dụng ngôn ngữ đời thường, tiếng lóng, thậm chí có phần thô tục để làm thơ. Những bài thơ kiểu này thường được lan truyền rộng rãi trên Facebook, TikTok, YouTube…

Tóm lại, xu hướng thơ dùng ngôn ngữ đời thường đã có từ lâu, nhưng phát triển mạnh mẽ nhất từ thời kỳ Đổi Mới (sau 1986). Các thi sĩ như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Nguyễn Quốc Chánh… đã góp phần định hình phong cách này.

Thời đương đại, hai “bàn phím” gây chú ý sâu sắc là Bùi Chí Vinh và Nguyễn Lãm Thắng; cả hai đều có những tác phẩm thuộc xu hướng sử dụng ngôn từ bình dân, đời thường, đôi khi có phần thô ráp, trực diện trong thơ. Tuy nhiên, phong cách của hai nhà thơ này có những sắc thái riêng biệt.

1. Bùi Chí Vinh (sinh 1954)

  • Ông là một hiện tượng thơ trẻ từ thập niên 1980, nổi lên với phong cách ngông, bộc trực, đầy khí phách đường phố.
  • Thơ Bùi Chí Vinh mang đậm hơi thở bình dân, ngang tàng, có phần du đãng, nhưng vẫn đầy chất lãng mạn.
  • Ông sử dụng ngôn từ giản dị, đôi khi thô nhưng không tục, phản ánh đời sống, tâm tư của những người lao động, người trẻ, những con người bình dị trong xã hội.
  • Một số bài thơ của ông mang tính châm biếm, phản kháng xã hội bằng lối diễn đạt mạnh bạo.
  • Ví dụ, trong thơ ông có những câu rất đời thường như:


"Đi hoang trên những vỉa hè
Như thằng du thủ say mê cuộc đời"

⟹ Bùi Chí Vinh thuộc nhóm nhà thơ sử dụng ngôn ngữ đường phố, với chất phóng khoáng, nhưng vẫn giữ được giá trị nghệ thuật trong thơ.

2. Nguyễn Lãm Thắng (sinh 1973)

  • Là một gương mặt thơ đương đại, phong cách của ông có phần phá cách, nổi loạn, sử dụng nhiều yếu tố ngôn ngữ đời thường, thậm chí có khi "tục" nhưng không lố bịch.
  • Ông không chỉ sử dụng từ ngữ bình dân mà còn có lối tư duy thơ phi lý, ngẫu hứng, phản ánh nhiều góc cạnh của cuộc sống.
  • Nguyễn Lãm Thắng có xu hướng chơi chữ, sử dụng các hình ảnh bất ngờ, đôi khi gây sốc hoặc có màu sắc siêu thực.
  • Một số bài thơ của ông khiến người đọc cảm thấy sự xô lệch, bấp bênh của đời sống hiện đại, nhưng cũng có chút hài hước, châm biếm.
  • Thơ ông có sự giao thoa giữa đời thường và triết lý, đôi khi mang phong cách thơ hậu hiện đại.

⟹ Nguyễn Lãm Thắng thuộc nhóm nhà thơ sử dụng ngôn từ đời thường nhưng có tính thể nghiệm, hiện đại hơn, không chỉ đơn thuần là chất đường phố hay bình dân.

Như vậy,

Cả Bùi Chí Vinh và Nguyễn Lãm Thắng đều có mặt trong xu hướng sử dụng ngôn ngữ bình dân trong thi ca, nhưng mỗi người có cách thể hiện khác nhau:

  • Bùi Chí Vinh thiên về ngông nghênh, phản kháng.
  • Nguyễn Lãm Thắng thiên về hậu hiện đại, thể nghiệm, chơi chữ.

Phần VI

SỰ RA ĐỜI VÀ LAN TỎA THƠ 1-2-3

Thể thơ này do nhà thơ Phan Hoàng khởi xướng năm 2018. Đây là một hình thức thơ ngắn, mang tính sáng tạo rõ rệt, giúp người viết dễ dàng thể hiện cảm xúc và tư duy hình tượng mà không bị gò bó vào những khuôn mẫu vần luật cũ; đồng thời, nó cũng tránh tình trạng thơ kéo dài lê thê, mien man bất tận như thể không có điểm dừng.

Đặc điểm của thể thơ 1-2-3

1. Cấu trúc ngắn gọn, chặt chẽ

  • Gồm 3 khổ thơ chính với số dòng cố định:
    • Dòng thứ nhất: Đóng vai trò tựa đề mở, có thể là một câu khái quát, một hình ảnh ẩn dụ hoặc một câu khẳng định mạnh mẽ.
    • Hai dòng tiếp theo (khổ hai): Triển khai hình ảnh, nội dung hoặc cảm xúc của bài thơ.
    • Ba dòng cuối (khổ ba): Mở rộng ý nghĩa, tạo bất ngờ hoặc đưa ra triết lý, liên tưởng rộng hơn.

2. Không bắt buộc vần điệu, chú trọng nhạc tính nội tại

  • Thơ 1-2-3 không yêu cầu vần theo quy tắc chặt chẽ như lục bát hay Đường luật, nhưng vẫn giữ được sự uyển chuyển nhờ nhịp điệu tự nhiên.
  • Người viết có thể tận dụng sự lặp lại, đối lập hoặc nhấn mạnh để tạo nhạc tính mà không cần gieo vần.

3. Đề cao hình ảnh và tư duy gợi mở

  • Thơ 1-2-3 sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng, giúp bài thơ trở nên súc tích nhưng giàu ý nghĩa.
  • Không diễn giải dài dòng mà tạo ra sự liên tưởng đa chiều, để người đọc tự cảm nhận và suy ngẫm.

4. Tính linh hoạt, đa dạng chủ đề

  • Có thể viết về thiên nhiên, tình yêu, thân phận con người, quê hương đất nước, triết lý cuộc sống.
  • Thơ có thể mang tính trữ tình, tự sự hoặc triết lý, nhưng luôn gọn gàng, súc tích.

Ví dụ một bài thơ 1-2-3:

 

Đằng sau ô cửa bốn mùa[2]

 

Người đàn bà độc hành trên chuyến xe vụn vỡ

Lăn tăn guồng quay nỗi nhớ, hơi thở cong queo

 

Ô cửa bốn mùa nóng lạnh heo may trả vay trầy trật

Người đàn bà ngàn vết thương trú ngụ

Nụ cười giòn, giòn cả giữa mùa đau.

 

 

Như vậy,

✅  Thơ 1-2-3 là một thể thơ ngắn, súc tích, giàu hình ảnh và gợi mở.
✅  Không bị ràng buộc bởi vần điệu, nhưng vẫn giữ nhịp điệu tự nhiên, có tính nhạc.
✅  Tạo ra sự liên tưởng phong phú, giúp người đọc tự khám phá ý nghĩa bài thơ.

Thể thơ này đã và đang tạo thành một phong trào sáng tác rộng rãi, thu hút nhiều tác giả thử nghiệm và phát triển. Trong đó, điều đáng ghi nhận là các ấn phẩm thơ 1-2-3 tiêu biểu sau đây và thành công đáng kể của Cuộc thi sáng tác thơ 1-2-3 do fb NSVH phối hợp với website Văn học Sài Gòn tổ chức năm 2024, (với sự góp mặt của 619 bài thơ 1-2-3 và HĐGK là nhà nghiên cứu PBVH – PGS-TS Trần Hoài Anh - Chủ tịch, thành viên danh dự là nhà thơ Phan Hoàng, PCT HĐ là nhà văn Trần Như Luận, nhà thơ Phạm Thị Phương Thảo, nhà thơ Huỳnh Khang và nhà PBVH Võ Quốc Việt) trao giải trên Cộng đồng Mạng ngày 3/3/2025:

1.     "Vọng Núi" – Trần Nguyệt Ánh: Tập thơ gồm 154 bài, thể hiện tình yêu thiên nhiên và con người Tây Nguyên.

2.     "Thủ Thỉ Phù Sa" – Nguyễn Đinh Văn Hiếu: Gồm 111 bài thơ, phản ánh cuộc sống và văn hóa miền sông nước Trà Vinh.

3.     "Đường Link Ban Mai" – Nhiều tác giả: Tuyển tập thơ 1-2-3, chia thành 5 phần, mỗi phần mang một chủ đề riêng.

4.     "Gương Mặt Trăng Càng Xa Càng Nhớ" – Nhiều tác giả: Tập thơ tập hợp những sáng tác nổi bật theo thể thơ 1-2-3, khám phá các khía cạnh của cuộc sống và tâm hồn con người đất Việt.

5.     "Tiếng Mưa Dội Về Tiềm Thức Xa" – Nhiều tác giả: Tuyển tập thơ 1-2-3 với những bài thơ gợi cảm xúc sâu lắng, liên kết giữa hiện tại và ký ức.

6.     “Vụn và Lành” – Nguyễn Tiến Nên – với 100 bài thơ theo nhiều chủ đề khác nhau.

7.     “Những cánh hoa mở đêm” – Phạm Thị Phương Thảo – với trên 100 bài thơ 1-2-3.

Với tư cách đại diện Ban Tổ chức cuộc thi sôi nổi ấy, đồng thời sau nhiều năm nghiên cứu, tìm hiểu, tôi tin rằng thể thơ 1-2-3 sẽ tiếp tục lan tỏa và phát huy trong thời gian tới.

T.N.L.

(tháng Giêng, Ất Tỵ-2025)



[1] Tác giả: Trần Ngự Bình.

[2] Tác giả: Trần Thị Thùy Vy 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này